Kiểm soát ra vào Cuba một cách nghiêm ngặt

   “Khi có tàu chở những lượng đường lớn của Cuba xuất sang Châu Âu, chúng tôi có nhiệm vụ phải đưa lên tàu những chất gây ô nhiễm nào đó. Kể cả việc chúng tôi mở tung những thùng đường và đập vỡ những bộ phận máy móc trên tàu.

   “Có đủ mọi loại phá hoại. Người của chúng tôi đổ những chất hóa học vô hình và không thể phát hiện được vào những thùng dầu máy gửi đến Cuba.

    “Tất cả những việc ấy gây ra một sự tụt lùi của nền kinh tế kế hoạch hóa. Những dầu nhiễm bẩn đó được sử dụng để chạy máy điêzen và như thế có nghĩa là những bộ phận của động cơ sẽ bị hao mòn trong một thời gian ngắn hơn nhiều so với thời hạn quy định.

Kiểm soát ra vào Cuba một cách nghiêm ngặt


    “Trước khi tiến hành phá hoại một sản phẩm như vậy, chúng tôi tìm đến người làm ra nó, xem có thế thuyết phục họ làm cho việc này. Nếu không đạt được kết quả thì chúng tôi sẽ huy động người của mình ra tay khi chuyến hàng đang trên đường đi đến Cuba.

    “Chúng tôi làm tất cả mọi việc có thể nghĩ ra.”

   Một trong những số công việc tinh vi nhất là thuyết phục một nhà sản xuất hộp vòng bi ở Francfort, Tây Đức, sản xuất cho một lô hàng gồm những hộp vòng bi bị đặt lệch tâm. Một lần khác là vận động một nhà sản xuất cũng làm như thế với một số máy móc về truyền tin. Lẽ tất nhiên, chúng tôi phải trả cho họ một số tiền rất lớn.

   “Tôi biết là Jack Anderson – một nhà báo rất thạo tin – đã viết rằng chúng tôi trả cho một thuyền trưởng người Nhật để đánh đắm cả một kiện hàng gồm toàn xe buýt xuống biển ở vùng Támesis, trên đường đi Cuba. Anderson nói rằng họ đã đánh đắm. Tôi không biết rõ chuyện này lắm. Nhưng tôi biết rằng có một chuyện thật là chúng tôi đã phá hoại những chiếc xe buýt hiệu Leyland dược chở từ Anh sang Cuba, và đó là một vụ khá tế nhị”.

   CIA cũng giúp những người Cuba lưu vong giầu có đâm đơn kiện việc tài sản của họ ở Cuba bị tịch thu. Kết quả của các vụ kiện này, trong một vài trường hợp là Tòa án đã định tịch thu những máy bay của hãng Hàng không Cuba hạ cánh xuống mộ1 số sân bay quốc tế.

   JM WAVE thực hiện những vụ tấn công bá quân sự vào những mục tiêu trong nước Cuba. Những cuộc tấn công ấy làm thương tổn trực tiếp nền kinh tế Cuba, và hơn nữa buộc chính phủ Cách mạng phải dành tiền của và nhân lực cho công tác bảo vệ vùng bờ biển.

   Nhà nghiên cứu Roy Norton đã viết: “Những đội quân ám sát của CIA luyện tập trên vùng đất sình lầy của bang Floria theo phương pháp ám sát của tổ chức ở trong Đại chiến Thế giới lần thứ hai”.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: fidel castro, đất nước cuba

Chủ chốt của lực lượng biệt kích L và lợi ích nó mang lại

LB: Ông đánh giá Veciana thế nào?

TC: Là một người yếu đuối về tính cách. Theo đuôi CIA. Những năm trong tù tôi được biết là do hắn mà một số người phải nằm sau chấn song sắt. Tôi thực sự cho rằng hắn là một kẻ khốn nạn.

LB: Ai là những người chủ chốt trong lực lượng Biệt Kích L?

TC: Tôi là chỉ huy. Phó của tôi là Ramón Font và Luis Posada Carriles

LB: Các ông có thu được lợi ích kinh tế nào trong các hoạt động đó khôngTC: Khá nhiều. Nhưng không bằng Jorge Mas Canosa. Chúng tôi thỏa thuận với tay này chia đôi số tiền quyên góp được. Hắn là một thằng hèn, lúc nào cũng tìm cớ để tránh tham dự những hoạt động mạo hiểm.

LB: Hắn là bạn của ông à?

TC: Hắn chả là bạn của ai cả. Suốt 12 năm tôi ngồi tù hắn không hề quan tâm đến tôi và càng không để ý gì đến gia đình tôi. Điều hắn rất thành thạo là ăn chặn tiền người khác. Tôi là một trong những nạn nhân của hắn.

LB: Mas Canosa là người gắn bó vi CIA?

TC: Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về lời quả quyết của mình là Mas Canosa không chỉ gắn bó mà là một tên tay sai của CIA. Chẳng phải tôi tiết lộ bí mật với ông đâu. Bàn dân thiên hạ ở Miami đều biết điều này.

Chủ chốt của lực lượng biệt kích


LB: Các ông có lập được căn cứ trên lãnh thổ các nước khác không?

TC: Thời gian cuối Khủng hoảng Tháng Mười, là lúc chúng tôi nhận thấy Mỹ đã quyết định dứt khoát không còn công khai dùng vũ lực chống Cuba nữa, chúng tôi bắt đầu các cuộc vận động để có được một căn cứ bên ngoài đất Mỹ.

LB: đâu?

TC: Cộng hòa Dominicana, tại một nơi gọi là Samaná. Tướng Elias Wessin đã giúp chúng tôi.

LB: Các ông trực tiếp gặp Wessin?

TC: Tôi thì không nhưng người của chúng tôi là Frank García đã tiếp xúc với ông ta vài lần. Cho đến ngày xảy ra cuộc nổi dậy của tướng Francisco Caamacho (1965), thì mọi việc bị đổ bể.

LB: Ông có thể kể về vụ xâm nhập khiến ông bị bắt?

TC: Lúc đó tôi đang chuẩn bị một chiến dịch đánh vào nhiều nơi dọc bờ biển Cuba bắt đầu từ tỉnh Oriente (miền Đông) thì Mas Canosa thông báo với tôi đề nghị của CIA đưa hai người của họ vào Cuba.

Từ lâu CIA đã tìm cách đưa hai người này vào Cuba, nhưng đã hai lần bị thất bại. Tôi giải thích với họ là tôi đang vướng vào nhiều kế hoạch khác. Họ nài nỉ mãi buộc tôi phải nhận lời, nhưng rất lo, vì khi đánh người vào mà bị phát hiện thì các việc khác đều phải bỏ.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: fidel castro, đất nước cuba

Tại sao chọn Monte Barreto làm điểm đổ bộ?

LB: Ông đặt điều kiện gì với họ?

TC: Họ không có quyền qui định cho tôi điểm đổ bộ cố định, vì như vậy có thể bị phục kích. Họ nói với tôi rằng chỉ muốn chúng tôi thả người của họ bất cứ chỗ nào trên đoạn từ Santa Fe đến Cojimar, gần một tuyến đường giao thông nào đó, để ngay sau khi vào bờ người của họ có thể gọi điện thoại cho người quen.

LB: Các ông xuất phát từ đâu?

TC: Chúng tôi xuất phát từ Tony Roof, Cù lao Marathon, ởFlorida.

LB: Bằng loại tàu nào?

TC: Loại tàu dài 25 fit, hai động cơ Chrysler, công suất 210 mã lực.

LB: Những ai đi cùng ông?

TC:    Roberto Anta, Eugenio Zaldívar và

Guillermito Á1 vare Z.

LB: Các ông thả ai vào đất liền?

TC: Herminio Díaz và Armando Romero.

LB: Hai người này có nhiệm vụ gì?

TC: Ám sát Fidel Castro.


chọn Monte Barreto làm điểm đổ bộ

LB: Ông có thân với họ không?

TC: Tôi biết Herminio rõ hơn. Hồi ở Cuba, anh ta làm việc trong khách sạn Riviera. Đến năm 1963 trốn ra nước ngoài. Là người mà Mas Canosa sử dụng để làm những việc “bẩn thỉu”. Có quan hệ mật thiết với mafia. Hắn có tài bắn súng.

LB: Herminio có nói gì với ông không?

TC: Trên đường đi hắn nói với tôi là hắn muốn có mặt ở La Habana trước mười một giờ đêm, vì cả hai đều đóng giả người chơi bóng chày nghiệp dư vừa mới rời trận đấu. Tôi nhớ là hắn còn tiết lộ là đứng sau nhiệm vụ của hắn là một người giàu có kếch xù.

LB: Họ mang theo loại vũ khí gì?

TC: Bên trong áo sơ mi họ mang một thắt lưng đặc biệt dắt hai súng lục Browning 9 ly đã cải tiến để bắn liên thanh mỗi băng 500 viên, và 12 trái lựu đạn. Còn lại họ dắt thuốc nổ dẻo và ngòi nổ hẹn giờ. Họ còn mang theo một chiếc vali trong có đựng: một tiểu liên Israel UZI với băng đạn; hai súng lục Beretta nòng 7,65 kèm theo ông giảm thanh; một tiểu liên M-3 có bộ phận giảm thanh; một các bin M-2 không báng gập, bốn khối thuốc nổ C4 nhẫn hiệu M-5, sáu khối TNT, bảy ngòi nổ hẹn giờ, hai súng lục cỡ 32 ly có giảm thanh.

LB: Ai cấp vũ khí cho họ?

TC: CIA.

LB: Tại sao ông lại chọn Monte Barreto làm điểm đổ bộ?

TC: Khi đi qua tháp đèn biển Morro, chừng bảy dặm, tôi cho tàu chạy về hướng Jaimanitas là vị trí chuẩn để tôi có thể chọn một điểm đổ bộ. Chính xác là cửa sông Las Casas ở Santa Fe. Khi đến gần bờ tôi bật đèn định vị. Lúc đó khoảng 10 giờ đêm. Gần tới nơi, tôi nhìn thấy có rất nhiều tàu. Tôi bỏ ý định vào cửa sông và rẽ sang hướng bãi biển Viriato thuộc phường Flores. Tôi quan sát thấy một số người dang nhìn ra phía biển, chắc là họ dang đứng gác.

Tôi tiếp tục chạy về hướng Náutico (câu lạc bộ đua thuyền), nhưng không có ý định thả họ xuống đó vì tôi biết là khu vực này chỉ có một lối ra duy nhất, rất nguy hiểm. Tôi tiếp tục đi dọc theo bờ biển tìm những hành lang giữa các dãy biệt thự ở Miramar.

Quá nhiều đèn sáng. Tôi không thể mạo hiểm. Điểm đổ bộ tốt nhất của chúng tôi chỉ còn khu vực Đồi Barreto, rộng rãi và ít người ở. Và thế là tôi chạy về hướng ấy.




Từ khóa tìm kiếm nhiều: dat nuoc cuba

Nhiệm vụ và những công việc của Tony trong những vụ vượt biển Cuba

LB: Nhiệm vụ của ông là gì?

TC: Khi đến bờ, thả người được đưa đến rời đón những người đã chờ sẵn để đưa đi. Cùng tham gia hoạt động này có Guedes và hai phi công có bí danh là Sanson và Piedra.

LB: Guedes là ai?

TC: Là một người Anh. Ông ta từng là Giám đốcchi nhánh Pepsicola ởCuba. Lợi dụng điều kiện cho phép thường xuyên sang Mỹ, ông ta đã kết nối “Alberto Fernández” ở Miami và tổ chức các phi vụ.

LB: Họ tên đầy đủ của Guedes là gì?

TC: Robert Morton Guedes.

LB: Ông ta bị xử lỷ thế nào?

TC: Bị An ninh bắt, sau đó bị kết án ba mươi năm tù giam.

LB: Đoàn thủy thủ của tàu gm những ai?

TC: Bob Stevens, thuyền trưởng đồng thời là chỉ huy toàn CIA, Mario Redondo, Armando Rodriguez Alonso, Mannel Rodrignez Alonso, Alfredo Mir, Ramon Font và José Villa. Sau đó mấy năm thì số người này bị sa lưới pháp luật khi hai chiếc tàu Leyla và Jonny Express bị bắt giữ. Chỉ huy chiến dịch là Alberto Fernández.

LB: Ông thực hiện được bao nhiêu chuyến vượt biển như vậy?

TC: Được khoảng mười hai chuyến trước khi có sự kiện Girón. Thời đó hoạt động kiểu này không khó lắm vì Cuba chưa thành lập Bộ đội Bảo vệ Bờ biển.

LB: Bằng cách nào ông nắm được kiến thức hàng hải?

TC: Trước dây tôi cũng có chút ít ham mê nghề đi biển. Lúc sang Miami tôi được người ta dạy về hàng hải. Và tôi cũng học ngay trên từng chuyến đi.

LB: Trận Girón ý  nghĩa gì đối với ông?

TC: Thất bại ở Vịnh Con Lợn là một đòn nặng nề đối với tất cả chúng tôi. Chúng tôi đã tin chắc là sẽ thắng. Sau thất bại chúng tôi trở nên hoang mang.

Tony trong những vụ vượt biển Cuba


LB: Do đâu mà các ông tin chắc là sẽ thắng?

TC: Vì chúng tôi có chỗ dựa là người Mỹ, chúng tôi coi họ là vô địch.

LB: Ri sau đó, ông dạt theo hướng nào?

TC: Những tháng cuối năm 1961 tôi đến Puerto Rico, rồi cùng với một số chiến hữu lập ra tổ chức Alpha 66.

LB: Tại sao gọi là Alpha 66?

TC: Alpha là ký tự đầu tiên trong bảng chữ cái Hi Lạp, và 66 là số người sáng lập ra tổ chức.

LB: Gm những ai?

TC: Roberto Vale, người đã biển thủ 25 vạn peso khi làm giám đốc Ngân hàng Phát triển ởLas Villas (năm 1961) và được tôi bí mật đưa ra nước ngoài. Có cả Antonio Veciana, từng tham gia vụ mưu sát Fidel Castro tại cuộc mít tinh trước Phủ Tổng thống cũ. Và những người khác.

LB: Các ông góp bao nhiêu tiền?

TC: Mỗi người một nghìn đôla

LB: Các ông chuyên về loại hoạt động nào?

TC: Chúng tôi dự định đánh vào những tàu neođậu ở các thương cảng với ý đồ gây nỗi lo sợ nào đó cho các hãng tâu buôn phương Tây, nhằm làm tăng tỉ giá bảo hiểm rủi ro; và bằng cách đó từng bước phong tỏa nguồn cung cấp từ bên ngoài cho Cuba.


Đọc thêm tại:

Mở đầu cuộc trò chuyện với Tony

LB: Ông nhớ gì về thời trai trẻ của mình?

TC: Mẹ tôi là giáo viên dạy sử. Khi học cấp ba, tôi chơi bóng rổ. Lên đại học, là vận động viên bơi lội, từng tham dự một vài giải thi đấu quốc tế. Tôi cũng học Quyền Anh và trở thành đấu thủ chuyên nghiệp. Ngoài ra tôi còn tham gia môn săn ngầm dưới biển và lái máy bay thể thao.

LB: Ông bắt đầu hoạt động chống Cách mạng từ khi nào?

TC: Từ cuối năm 1959, vào tháng 12, khi tôi bị loại khỏi ngành cảnh sát.

LB: Vì sao bị loại?

TC: Vì tôi có quan hệ lén lút với đặc vụ của FBI.

LB: Hoạt động chống cách mạng đầu tiên của ông là gì?

TC: Hoạt dộng chống cách mạng của tôi bắt đầu từ cuộc họp tại quán bar Pan American, phố Obispo cùng với Sergio Sangenis, Ángel Ross, Ángel Lanas, Niño Díaz và Jorge Sotus.

LB: Cuộc họp bàn những gì?

TC: Thành lập tổ chức “Phong trào Phục hưng Cách mạng” (MRR). Tất cả những người tham gia cuộc họp đều tham gia Ban chấp hành.

LB: Từ lúc đó ông làm gì?

TC: Nhiệm vụ của tôi là tuyển dụng những người trước đây từng tham gia đấu tranh chống chính phủ Batista, nhưng sau đó vì những lý do khác nhau tự ly khai với quá trình cách mạng.

Mở đầu cuộc trò chuyện với Tony


LB: Ông ở Cuba cho đến khỉ nào?

TC: Tháng 4 năm 1960, Sangenís, Lanas và Eddy Suárez Rivas bị Cơ quan An ninh bắt giữ. Tôi thoát được, lẩn trốn trong vài ngày. Đến ngày mồng một tháng 5 tôi xin cư trú tại Đại sứ quán Peru. Mấy tuần sau tôi sang Mỹ.


LB: Ai là những người đầu tiên ông tiếp xúc khi đến Miami?

TC: Manuel Artime, Nino Díaz và Antonio Michel. Tôi cũng gặp cả Alberto Fernández, và qua người này tôi được làm quen với Mike Corpos.

LB: Corpos là ai?

TC: Một người Mỹ từng có cơ sở sản xuất và kinh doanh đệm giường ở La Habana. Ông ta là người đã bí mật đưa Raúl Chibas sang Mỹ theo đường biển từ khu nghỉ mát Vardero.

LB: Tại sao Chibas lại ra di bằng cách đó?

TC: Anh ta tham gia hoạt động mưu phản.

LB: Nơi nào được các ông chọn để đưa và đón người ra, vào Cuba?

TC: Chúng tôi có một vài điểm, nhưng nơi được sử dụng nhiều nhất là khu vực Palmarejo ở bờ biển phía bắc của tỉnh Matanzas, gần xa lộ Via Blanca (xa lộ Trắng).

LB: Các ông định hướng thế nào để đến được địa điểm qui định?

TC: Ban đón tiếp bố trí ba chiếc đèn bão, hai chiếc ở hai đầu khu vực mà chúng tôi sẽ tiến vào, và một chiếc đặt ở giữa là vị trí mà xuởng chúng tôi neo đậu.

LB: Tàu mẹ thả các ông ở cách bờ bao xa?

TC: Một dặm.

LB: Ông vào bờ bằng cách nào?

TC: Xuởng máy chở chúng tôi đến nơi có bố trí đèn bão, từ đó chúng tôi đi thuyền cao su vào bờ.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: fidel castro, đất nước cuba

Tony người chỉ huy cuộc xâm nhập bằng tàu vào Cuba

      Ngày 29/5/1966. Chuông nhà thờ Dóng Tên ở Miramar điểm  10 giờ đêm. Hai giờ nữa là hết ngày Chủ nhật. Vài phút sau, chính xác là 10 giờ 15 phút, trên đoạn bờ biển đầu phố 78, tại khu vực mà trước đây người ta quen gọi là Monte Barreto, nay là hai khách sạn Triton và Neptuno, chỉ cách Đại lộ Năm vài chục mét, các chiến sĩ dân quân đang canh gác ở đó nhìn thấy một tàu nhở đậu ngoài biển, và một xuởng cao su đang tiến vào bờ.

     Bầu không khí có vẻ căng thẳng. Chưa rõ ý định của con tàu. Một lúc sau họ phát hiện có mấy người đã lên đất liền. Các chiến sĩ dân quân liền nổ súng bắn cấp tập. Chiếc tàu nổ máy bỏ chạy, nhưng bị tàu Hải quân Cuba chặn đường… Tên chỉ huy cuộc xâm nhập bị bắt.

Tony chỉ huy cuộc xâm nhập vào Cuba


     Vài năm sau khi được ra tù, tên chỉ huy cuộc xâm nhập đó kể lại với tôi những gì đã xảy ra. Tên y là Antonio Cuesta Valle, thường gọi là Tony. Khi bị bắt, Tony là thủ lĩnh tổ chức Biệt Kích L., là một trong những kẻ đã lén lút xâm nhập nhiều lần nhất vào bờ biển Cuba để móc nối đưa người sang Mỹ và tuồn người, vũ khí vào Cuba.

     Y lĩnh án mười hai năm tù. Năm nay tròn 51 tuổi. Người cao hơn thước tám. Nói năng lưu loát. Y không hề lảng tránh bất kỳ câu hỏi nào của tôi.Trong cuộc nói chuyện y đã thổ lộ một phần quá trình hoạt động phản cách mạng và một vài suy tư mà y nghiền ngẫm trong khi ngởi tù, mặc dù vẫn chưa từ bở tư tưởng thù địch đối với cách mạng.

     Cuộc nói chuyện kéo dài vài ngày và được ghi băng với sự đồng ý của y. Một thời gian sau y sang Mỹ cùng với cô vợ mới.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: dat nuoc cuba

Thất bại ở Cuba là thất bại của chính phủ Mỹ

     Vị chỉ huy cách mạng tới Girón, trên một chiếc xe tăng. Thấy pháo binh vẫn tiếp tục bắn, Fidel liền cử người truyền lệnh cho Mir et ngừng bắn.

     Fidel ra mệnh lệnh và thảo tin thông báo với thế giới về chiến thắng đối với cuộc xâm lược do bọn lính đánh thuê tiến hành.

     “Sau đó Người đi ra bến tàu, từ đấy có thể nhìn thấy 2 con tàu ở cách đó không xa lắm – Rodiles kể lại – Fidel bắt đầu bấm nháy đen pin. Tôi nghĩ ngợi và tự nhủ: *Anh sẽ thấy …”

     “Tôi hỏi Fidel tại sao làm thế và Người trả lời: “Để xem chúng có mắc lừa, tưởng rằng đó là tín hiệu của bọn lính đánh thuê, chúng sẽ đến cứu và chúng ta sẽ nã pháo vào chúng”.

     “Tôi ngạc nhiên và ngẫm nghĩ: Với tất cả những gì vừa trải qua; con người này vẫn muốn tìm kiếm thêm sự phiền toái”.

     Quân đội và Dân quân đã đánh tan cuộc xâm lược. Bắt sống 1200 tù binh. Lịch sử của Mỹ Latinh đã thay đổi trong 66 giờ. Lực lượng không Quân khiêm tốn của ta đã đánh đuổi và bắn rơi các máy bay ném bom của địch và đánh đắm một số lớn tàu xuởng chở bọn xâm lược đất nước Cuba.

Thất bại ở Cuba là thất bại của Mỹ


     Nhân dân hoàn toàn ủng hộ cách mạng. Không hề có dấu vết nào của cuộc nổi dậy nội bộ, như tiên đoán của các nhà phân tích thời cuộc của CIA.

     Như vậy, cuộc xâm lược được báo trước để “giải phóng* Cuba đã kết thúc bằng một thất bại hoàn toàn, với kết quả là chính quyền Kennedy, ủng hộ phi vụ điên khùng này, bị mất tín nhiệm trước toàn thế giới.

     Một số đáng kể tù binh đã được trả tự do để đổi một sự bồi thường bằng thực phẩm và thuốc chữa bệnh. Tạp chí Siempre của Mexico viết:

     “Việc xử bắn hàng loạt đối với tất cả những kẻ có vũ khí trong tay là hợp pháp và theo chủ quyền không có gì phải bàn cãi. Pháp, Anh, Mỹ cũng không xử sự bằng cách khác. Nhưng Chính phủ Cuba với một tinh thần nhân đạo mà không một chế độ chính trị nào phải sợ áp dụng, đã tha mạng cho bọn phản bội”.

     Walter Lippmann, cây bình luận kỳ cựu của làng báo Mỹ gọi cuộc xâm lược là “một sự sai lầm kỳ dị khổng lồ”.

     Joseph Barry, tóm tắt tình hình trên tờ Bưu điện New York ngày 23/4: “Dù kẻ nào thắng ở Cuba, chúng ta cũng sẽ là những người thua cuộc. Cuộc thảm bại ở Cuba đã thành một bi kịch của Mỹ. Trong 100 ngày đầu cầu nguyện chính phủ Kennedy đã thật sự xoá bỏ sự tái nhiệm của họ trong sử sách thế giới”.

     Bộ trưởng Quốc Phòng Robert Me Namara khẳng định: “Đây không phải là một thảm họa của CIA mà là một thảm họa của chính phủ”.

     Tổng tư lệnh chỉ huy chiến dịch, Nhà nghiên cứu Seymour Hersh phát hiện rằng “Khử Castro là một phần của cuộc xâm lược như lời Robert Maheu, người giữ mối liên lạc giữa CIA và Mafia, đã thổ lộ với tôi. Việc ám sát Castro phải được thực hiện trước cuộc xâm lược, nhưng tốt hơn là cùng một lúc với cuộc xâm lược”.

     Sự liên hệ giữa cuộc xâm lược với việc ám sát Fidel đã được Richard Bissell chính thức thừa nhận trong cuộc phởng vấn dành cho Luden S.Vandenbroucke, viên chức ngoại giao Mỹ vào năm 1984 để đăng trên tạp chí Lịch sử Ngoại giao, xuất bản 3 tháng một số.

     Sau 80 ngày ngồi trên ghế Tổng thống John F.Kennedy đã lao vào một cuộc phiêu lưu nguy hiểm đem lại cho ông ta thất bại chính trị lớn trong đời.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: fidel castro, cu ba ung ho viet nam

Tổ chức RECE và lực lượng Biệt Kích Lra đời như thế nào?

LB: Tổ chức RECE ra đời như thế nào?

TC: Năm 1962 người Mỹ chọn Pepin Bosch, một trong những ông chủ hãng rượu rum Bacardi và nguyên là Bộ trưởng Tài chính trong chính phủ Carlos Prío trước đây, làm lãnh tụ của cuộc chiến đấu chống Cuba. Và Bosch chọn Vicente Rubiera, từng là Tổng thư ký Công đoàn Điện thoại Cuba những năm 50, làm đại diện cho giai cấp công nhân. Vị điền chủ Ernesto Freyre và gã sinh viên Manuel Salvat cũng được chọn vào bộ máy. Nhưng lúc đó CIA có ý định sử dụng Salvat vào việc khác nên họ cử Jorge Mas Canosa thay thế.

LB: Ai phụ trách quân sự trong RECE?

TC: Họ giao cho Eneido Oliva lúc đó đã được phong quân hàm thiếu tá quân đội Mỹ. Anh ta cũng có mặt trong cuộc đổ bộ ở Vịnh Con Lợn. Oliva thông báo với tôi là người Mỹ đang có nhiều kế hoach lớn, và đề nghị tôi phụ trách các cuộc tác chiến biệt kích. Tôi đồng ý.

Cộng đồng Cuba lưu vong rất coi thường RECE vì tổ chức này chủ trương tiến công vũ trang, nhưng chưa hề đưa được một người nào vào đất Cuba.

Tổ chức RECE và lực lượng Biệt Kích Lra


LB: Thời kỳ xảy ra cuộc Khủng hoảng Tháng Mười (1962), ông ở đâu?

TC: Lúc đó tôi đang ngoài biển, trên đường đến Cuba.

LB: Với mục đích gì?

TC: Thực hiện một trận đánh theo kế hoạch ởSagua la Grande. Qua rađiô chúng tôi nhận được tin bắt đầu cuộc xung đột.

LB: Ai đi cùng ông?

TC: Nhà báo Andrew St. George, lúc đó là phóng viên của tạp chí Life.Người này có quan hệ tốt với các tổ chức chủ yếu của chúng tôi. Họ bảo anh ta cũng là nhân viên CIA, nhưng tôi thì không chắc lắm. Chúng tôi cần tuyền truyền trên công luận.

LB: Các ông làm gì khi nhận được tin về cuộc khủng hoảng?

TC: Andrew khuyên tôi nên trở lại Miami vì vấn đề Cuba sẽ được giải quyết trong thời gian ngắn khi có sự can thiệp của Mỹ.

LB: Bầu không kMiami lúc đó thế nào?

TC: Dân di trú Cuba nhốn nháo cả lên. Có nhiều cuộc biểu tình ủng hộ người Mỹ. Hầu hết chúng tôi đều cho rằng Cách mạng Cuba chỉ còn tính từng giờ. Thậm chí có người đã chuẩn bị sẵn va li.

LB: Lực lượng Biệt Kích L, được thành lập trong những ngày đó phải không?

TC: Đang giữa chừng cuộc Khủng hoảng Tháng Mười thì Eloy Gutierrez Menoyo và Antonio Veciana thỏa thuận sát nhập hai tổ chức Đệ nhị Chiến khu Escambray và Alpha 66 làm một. Jose Miro Cardona được chọn làm người đứng đầu nhà nước Cuba trong tương lai. Cũng giống như thời kỳ Girón, cái mà ông này mong chờ chỉ là sự ảo vọng.

Tôi không đồng ý với chủ trương sát nhập đó, vì vậy tự quyết định thành lập lực lượng Biệt Kích L.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: fidel castro, cu ba ung ho viet nam

Mỹ thất bại thảm hại ở Girón

    Vào lúc 3 giờ 50 phút chiều, sau khi đã đổi vị trí nhiều lần và giữ tư thế dọa dẫm, các tầu chiến Mỹ quay đầu ra biển khơi và vĩnh viễn rời xa bờ biển nước ta.

    Một tốp xe tăng và hai đại đội bộ binh được phái đến Girón, và thực sự chúng ta đã chiếm lại được nơi này mà không tốn một viên đạn nào. Quân địch đã bỏ chạy từ trước.

    Việc đó xảy ra lúc 5 giờ 30 phút ngày thứ tư 19. Lực lượng xâm lược đã bị đánh tan. Đây là lần đầu tiên chính phủ Mỹ phải nhận mội thất bại nặng nề.

    Sau khi vào Girón lực lượng cách mạng hắt đầu phải rà soát tất cả những căn nhà, các trụ sở để tìm những tên địch phục kích hoặc lẩn trốn. Công việc ấy được tiến hành trong hóng tối vì trạm phát điện đã bị phá hủy. Những nhân viên làm việc ở đây bị địch bắt giam, được trả lại tự do.

    Khi đêm đã xuống, có tin ở hướng Bắc – Nam có một xe tăng chạy hết tốc độ, với những đèn chiếu sáng nhấp nháy liên tục. Việc đó làm mọi người chú ý. Có lệnh phải liên lạc ngay với người lái. Một sự ngạc nhiên lớn đến với họ: Đó là đại uý Joel Pardo, đến báo tin Fidel hiện đương ở Helechal và đã lệnh cho anh không được dừng xe cho tới khi đến bãi biển và từ đó bắn những viên pháo sáng báo hiệu đã đến đích. Vậy là, anh đã hoàn thành nhiệm vụ.

    Vì nóng ruột được báo cáo với Tổng Tư Lệnh rằng kẻ địch đã thất bại, và điều còn lại là chiến dịch vây bắt những tẽn đang trốn chạy tán loạn, Fernández, Flavio Bravo và René Rodri – guez quyết định đi về phía San Blas.

Mỹ thất bại thảm hại ở Girón


    Họ Tiến được một cây số thì có một hoả lực dầy đặc của hai khẩu súng máy và một số vũ khí nhẹ buộc họ phải lùi lại và trở về nơi vừa xuất phát. Flavio Bravo và Tư lệnh René Rodriguez bị thương nặng. Fernandez cũng bị một vết thương trên cánh tay và một ở chân.

    Hậu quả của cuộc xâm lược là 176 chiến sĩ cách mạng hi sinh và hơn 300 người khác bị thương.

    Con số đó chỉ tính ở một khu vực chiến đấu trên con đường từ Covadonga đến Girón có các đơn vị dưới sự chỉ huy của các tư lệnh Filiberto Olivera Pedro Miret, Felix Duque và đại uý Emilio Aragonés. Từ Yaguaramás đến Girón là hướng tiến quân cửa các đơn vị dưới quyền chỉ huy của Tư lệnh René de los Santos và đại uý Victor Dreke; theo đường song hành với bờ biển là đơn vị của Tư lệnh Raul Menendez Tomassevich và đại uý Orlando Pupo, cùng với những người khác nữa, đã góp phần quan trọng trong cuộc chiến đấu chống xâm lược.

    Đề phòng tình huống có thể xảy ra, Tổng Tư Lệnh đã cử các tư lệnh Raúl Castro, Juan Almeida và Ernesto (che) Guevara chỉ huy ở các tỉnh miền Đông, miền Trung và Pinar del Rio (ở miền Tây).

    Đồng thời các lực lượng của G-2 (cảnh sát vũ trang) dưới quyền tư lệnh Ramiro Valdés có trách nhiệm bắt giữ những phần tử nghi vấn hoạt động chống phá cách mạng và có thể được sử dụng như đội quân thứ năm của bọn xâm lược. Công tác này đã có sự tham gia tích cực của các ủy ban bảo vệ Cách mạng.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: fidel castro, đất nước cuba

Tin thất bại của Mỹ tại Cuba

     Tin thất bại đến Nhà Trắng mấy phút trước buổi trưa ngày 19. Theo Robert Kennedy, “trong 3 giờ trước đó, Tổng thống đã cố gắng tổ chức được cuộc di tản. Khi chúng tôi nhận được tin này, người của chúng ta đã ở trên biển. Đã quá muộn để phái những tàu chiến đến vì chúng sẽ bị hoả lực của pháo binh đánh đắm. Ông ra lệnh phải đưa tàu vào sát vùng bờ biển càng gần càng tốt và tìm cách cứu những người còn sống sót”.

     Trong thời gian diễn ra cuộc xâm lược, tại Bahamas, Joe Rivera, người của Meyer Lansky, đang chờ thông báo để trở lại Cuba và giành lại các sòng bạc đã mất.

     Ở cách xa bờ biển về phía Bắc của Cuba, Georgie Bufalino và Sally Burns, cùng người đứng dầu Mafia tại Pennsylvania, Russell Bufalino và trợ thủ của y James Plumeri, đang chờ đợi trên một chiếc tàu của Công đoàn tội ác với một người của CIA ở trong khoang, để đổ bộ vào La Habana. Kế hoạch của chính phủ Mỹ là sau 72 giờ bọn xâm lươc đổ bộ trên đất Cuba, sẽ công bố thành lập chính phủ lâm thời, rởi đề nghị Tổ chức các nước châu Mỹ (OEA) công nhận và kêu gọi giúp đỡ quân sự của nước ngoài. Viên chỉ huy quân sự của Binh đoàn xâm lăng, José Pérez San Román trong một cuốn sách xuất bản vài năm sau của sự kiện đã tiết lộ.

     “Nhiệm vụ của chúng tôi là giữ vững một điểm đầu cầu nơi sẽ đón những thành viên của Chính phủ Cuba lưu vong để chuyển thành chính phủ chiến đấu Cuba, để vận động sự công nhận tức thì của quốc tế. Sự công nhận này sẽ kèm theo sự chi viện chính trị – kinh tế – quân sự được chính phủ Mỹ cùng một số nước Mỹ Latinh chuẩn bị từ trước”.

Tin thất bại của Mỹ tại Cuba


Một vài tuần lễ sau cuộc thảm bại, Alien Dulles, người đứng đầu CIA, xuất hiện trong chương trình truyền hình “với Báo chí” của hãng NBC. Một trong số nhà báo tham gia chương trình, hỏi: “Thưa ngài Dulles khi phát động cuộc xâm lược, ngài rõ ràng đã chờ đợi một cuộc nổi dậy của quần chúng để hỗ trợ, nhưng không hề có. Tại sao ngài có thể nhầm lẫn như thế ?”.

     “Một cuộc nổi dậy quần chúng ư ?”, Dulles làm ra vẻ bị bất ngờ đáp. Ông ta hít một hơi tẩu thuốc lá, rởi nói: “Đó là sự mong muốn của quần chúng. Nhưng không, không nên nói là chúng tôi chờ một cuộc nổi dậy quần chúng. Chúng tôi chờ đợi sẽ xẩy ra ở Cuba một cái gì dó khác cơ… một cái gì đó đã không thànhhiện thực”. Cái “khác” đó là việc ám sát Fidel.

     Năm 1988, thượng nghị sĩ George Smatherz tiết lộ với nhà sử học Mỹ Michael R. Beschloss rằng kế hoạch của CIA là “Castro sẽ chết trong lúc đang xẩy ra cuộc đổ bộ”.

     Về phần Kennedy, trong một cuộc họp với bạn bè ngài Tổng thống đã than vãn về sự thất bại của mình. Nhà ngoại giao Clayton Frtchey nói: “Thưa ngài Tổng thông, sự việc có thể sẽ còn tởi tệ hơn”. Kennedy hỏi: “Sao cơ?”. Nhà sử học đáp: “Nếu chúng ta thắng”.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: dat nuoc cuba

Hậu cái chết của Thomas Ray

     Ngày 19, vào những giờ buổi sáng, một chiếc máy bay B-26 xuất phát từ Nicaragua đến tấn công những vị trí của quân đội cách mạng ở xung quanh Girón, bị súng phòng không bắn rơi xuống biển. Phi hành đoàn đều chết. Sau đó người ta biết rằng đó là những công dân Mỹ. Họ có tên là Riley W.,Shamburger Jr. và Wade Carrol Gray.

    Một máy bay khác xả súng liên thanh và ném bom xuống những toán quân đang đóng ở Bãi Dài. Cuộc tấn công bị hoả lực của pháo phòng không đáp trả và đạn bắn trúng vào thân máy bay. Ở đằng xa, khoảng 2 cây số cách nhà máy đường Australia, người ta trông thấy từ chiếc máy bay đó phụt ramột luồng khói và mấy giây sau nghe thấy một tiếng nổ lớn. Chiếc máy bay đâm đầu xuống đất.

    Một đội tuần tra gồm 15 người được phái đi tìm bọn giặc lái. Dẫn đầu đội là tư lệnh Oscar Fernández mell. Tôi đi theo với họ.

    Khi tới cánh đồng mía nơi chiếc máy bay rơi xuống, chúng tôi được mấy người nông dân ở đó cho biết có 2 người nhẩy ra khỏi máy bay và đang chạy trốn.

Hậu cái chết của Thomas Ray


     Tức khắc bắt đầu cuộc săn tìm. Cách nơi máy bay rơi chừng bốn, năm cây số, trong một vườn cam, hai tên chạy trốn chia làm hai ngả. Một tên chạy về hướng ruộng mía và tên kia mất hút về hướng nam. Không biết quốc tịch của họ. Lệnh ban ra là phải bắt sống chúng. Nhưng không thể được, vì khi thấy bị vây bọn chúng đã nổ súng kháng cự, và quân ta buộc phải đáp trả. Về sau được biết chúng tên là Thomas Pete Ray và Leo Francis Baker, cũng quốc tịch Mỹ.

    Cũng giống như mấy tên đã bị hạ ít phút trước tại vùng Girón, hai tên này có kinh nghiệm quân sự và thuộc Đoàn bay 17 của Cảnh Vệ Quốc gia được CIA tuyển mộ bang Alabama, Arkansas và Virginia.

    Xác của Francis Baker thực sự bị xé nát bởi một băng đạn FAL. Và được chôn trong nghĩa trang của Jagüey Grande. Còn xác của Ray lành lặn hơn được đưa về thủ đô.

    Trong 18 năm xác của Thomas Ray được giữ trong hầm lạnh của Viện Pháp Y La Habana. Trong suốt thời gian đó, mẹ, vợ goá và hai con của y vẫn nhận được tiền trợ cấp của một quỹ do CIA thành lập. Họ hoàn toàn không biết gì về số phận của anh ta. Một người Cuba được CIA ủy quyền đã gọi điện báo cho họ biết là anh ta đang làm việc cùng một số nhà buôn người Cuba và bị chết trong một tai nạn máy bay chở hàng.

    Năm 1972 CIA công nhận Ray là người thuộc biên chế của họ, và năm 1979 con gái anh ta đã được nhận xác cha, sau khỉ gửi đơn xin nhà chức trách Cuba cho phép.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: fidel castro, cu ba ung ho viet nam

“Không ai được bắn vào pháo hạm”

     Peter Wyden kể lại trận chiếnở Girón trong cuốn sách Bay of Pigs(Vịnh Con Lợn). Ông ta dựng lại những gì đã diễn ra trong các đơn vị quân đội của cả hai bên chiến tuyến.

     “Đại uý Fernández đang bực mình. Ông muốn chiếm lại Girón vào lúc 6 giờ chiều ngày thứ ba theo như lệnh của Fidel. Giờ đã là chiều thứ tư, ông ta vẫn còn ở cách khoảng 2 dặm rưỡi tới thắng lợi cuối cùng chống bọn xâm lược.” Bất thình lình một đại uý báo hiệu có 2 tàu chiến trên biển. Hai người chạy tới một ngọn đồi nhỏ mọc đầy cỏ và đứng dưới một gốc cây phía trái con đường. Fernández quan sát kỹ qua cặp ống nhòm Zeiss. Đích thực là những pháo hạm. Không có ai ở vùng này có pháo hạm cả, ngoại trừ Hải Quân Hoa Kỳ. Nó đang ở cách bờ khoảng gần 2 hải lý, trong hải phận Cuba, và chạy rất nhanh. Những khẩu pháo lồ lộ trên boong tàu. Nhiều tàu nhỏ chạy như con thoi giữa bờ biển và hai đầu pháo hạm. Một vài chiếc có vẻ đang vào bờ và vài chiếc khác chạy ra khơi.

     Fernández nhẩm tính có khoảng 40, hoặc 50 chiếc.

      “Ông ta viết vội vào một mẩu giấy để báo cáo với sở chỉ huy ở Nhà máy Đường Australia biết rằng bọn địch đang để quân tiếp viện, và xin sở chỉ huy điều cho ông thêm một tiểu đoàn bộ binh và một tiểu đoàn xe tăng. Ông lục tung túi để tìm một chiếc bút và giấy, và phát hiện đã để quên chùm chìa khoá xe ô tô ở La Habana. Mẩu tin của ông được liên lạc đưa đi bằng xe máy. Trong lúc đó đoàn quân của ông dã dừng bước trước mép nước, đang chỉ tay và nói một cách thiếu bình tĩnh về những con tàu. Tất cả đều muốn bắn.

“Không ai được bắn vào pháo hạm”


     “Fernández có thể cho phép họ mà không cần đắn đo. Ông ta không được chỉ thị gì về cách đối xử với các tàu Mỹ. Trước đây ông đã nhận dạng máy bay Mỹ và đã ra lệnh bắn chúng dù không kết quả, nhưng việc đó lại khác. Máy bay của chúng “Vi phạm vùng trời của ta và tham gia vào cuộc xâm lăng”. Nếu bây giờ bắn vào những chiếc pháo hạm đang ở trong một khoảng cách nào đó, khi bọn chúng lập luận rằng chỉ đang tuần tiễu trong hải phận quốc tế, thì sẽ có “hậu quả rất nghiêm trọng”.

      “Fernández rất có ý thức của một “sĩ quan có trách nhiệm”. Ông ta không đi nói với chỉ huy những pháo hạm đó lời cáo lỗi thích hợp để mở đầu những hành động giáng trả và leo thang chiến tranh. Hơn nữa, “Thật không lôgíc nếu nghĩ rằng 2 con tàu đó tấn công đơn dộc”. Họ đã có sự yểm hộ của máy bay.“Áp lực xung quanh ông tăng lên. Những ngườicủa ông vẫn đòi hỏi được bắn. Họ cảm thấy uất ức ( trong lòng vì những sự thiệt hại về người mà họ đã phải chịu. Fernández có 3 pháo cối 85 ly và 6 moóchiê. Ông ra lệnh cho họ xếp thành hàng bên phải mình, hầu như ngay trên mép nước. Ở bên trái dàn hàng 3 chiếc xe cầu phao bọc thép Xô – Viết với cỗ 3 pháo tự động. Girón bị quên trong một lúc. Ôngra lệnh cho pháo bắn từng khẩu một, chỉ nhằm vàonhững con tàu nhỏ; ông nghĩ có thể những tàu đóđang đưa đến một Binh đoàn đổ bộ nữa. Không ai bắn vào những pháo hạm.


Đọc thêm tại:

Cuộc đổ bộ hay cuộc tháo chạy tại Girón

     “Theo những chỉ thị của Fidel, đại đội badôca của đội quân đồn trú của Viện Cải Cách Ruộng Đất Quốc gia và đại đội tác chiến nhẹ của Tiểu đoàn Dân quân 116 được phiên chế vào đơn vị chúng tôi.

      “Efigenio lệnh cho chúng tôi để lại những vũ khí nặng, chỉ mang tiểu liên và súng trường. Tiểu đoàn được tổ chức rất nhanh và đại đội tác chiến nhẹ được cử đi tiên phong, chia làm hai dưới quyền chỉ huy của hai đại uý Luis Artemio Carbo và José Sandino. Đại đội badôca nhập với chúng tôi ở Jovellanos.

      “Tiếp nhận xong, Efigenio nói cho tất cả biết Bãi Dài đã được chiếm lại và nhiệm vụ đã thay đổi. Rodiles phải liên lạc với đại uý Fernández để nhận chỉ thị.

       Tởi Bãi Dài, Fernández ra lệnh tiến đến Girón. Đầu tiên là những chiếc xe tăng, đi sau là một đơn vị của Quân đội, sau nữa đến chúng tôi.

      “Chúng tôi qua đêm ở mũi Perdices. Trước rạng Đông, Efigenio phong cho tôi chức Tiểu Đoàn trưởng và chỉ thị cho tôi tiến quân ngay. Còn Marcelino Sanchez là chỉ huy phó. Chúng tôi bắt đầu hành quân”.

Cuộc đổ bộ hay cuộc tháo chạy tại Girón


      Vào khoảng 4 giờ sáng ngày 19, có lệnh phát hỏa và bắt đầu dàn quân chiến đấu. Trong trận chiến này quân ta đã đến nơi chỉ còn cách Girón một cây số, ở đó có một lực lượng phản công rất mạnh của địch với những khẩu đại bác không giật, xe tăng, đại liên và bộ binh.

      Pháo binh bố trí cách Girón 4 cây số: 4 dàn súng cối 122 ly, 1 dàn moóchiê 120 ly và 1 dàn pháo 85 ly.

      Kết quả thật hữu hiệu và sau khi quân địch đã bị loại, ta chiếm được rất nhiều vũ khí nặng. Một số tên bị bắt sống rất muốn biết cách xử lý mà ta đã dùng để xác định mục tiêu khiến cho đạn liến tiếp rơi xuống đầu chúng.

     Khoảng 1 giờ chiều khối lượng đạn pháo của địch giảm đi rõ rệt. Bắt đầu chuẩn bị một cuộc tấn công mới với ý đồ đánh chiếm các vị trí địch.

     Vào lúc 2 giờ 40 phút chiều xe tăng và bộ binh xông tới. Mọi người được ngắm nhìn ở phía chân trời những chiếc sà lan chở lính đang rút chạy, và từ đất liền đến chỗ những con tàu những chiếc xuồng đang vận động, khiến cho người ta phỏng đoản có một cuộc đổ bộ mới.

     Mọi người nhận được lệnh dùng tất cả các loại súng có trong tay bắn vào những xuởng và sà lan. Không quân cũng đánh đắm mấy xuởng, và némbom xuống những vị trí còn ở trong tay bọn xâm lược ở Girón. Mãi sau mới được biết đấy không phải là một cuộc đổ bộ mà là một cuộc tháo chạy.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: fidel castro, đất nước cuba

Tình hình chiến sự tại bãi biển Girón

     Tư lệnh Efigenio Ameijeiras đến chỉ huy sở, và nói chuyện với đại uý Fernández về tình hình chiến sự.

     Vào lúc 3 giờ 15 chiều có lệnh tiến thẳng đến Girón. Cách Bãi Dài 23 cây số, máy bay địch tấn công đoàn xe tải.

     Một dân quân bị thương ở bụng và bị nhiều vết bỏng trong một cuộc đánh phá của máy bay địch, được đưa về Bãi Dài để cấp cứu. Mặc dù tình trạng rất trầm trọng nhưng anh thương binh vẫn không ngừng nhắc đi nhắc lại: “Tổ Quốc hay là Chết”. Một tấm gương xứng đáng với tinh thần đó.     Con đường bị tắc nghẽn bởi những chiếc xe bị phá huỷ. Sau khi lôi được những chiếc đó ra xa đoàn xe lại tiến về phía quân thù.

Tình hình chiến sự tại bãi biển Girón


    Vào buổi tối có thêm Tiểu đoàn của lực lượng cảnh sát Quốc gia Cách mạng tham gia vào cuộc đối mặt với bọn xâm lược và họ đã lập lên một trong những trang hiển hách nhất.

     Trời chập choạng tối, bộ đội chỉ còn cách Bãi biển Girón chín cây số.

    Samuel Rodiles, bây giờ là Trung tướng, lúc đó là chỉ huy phó của Tiểu đoàn cảnh sát. Ngày 15/4, Tổng Tư Lệnh cho gọi Samuel, cùng Efigenio đến căn cử số 1. Tại đây Fidel trao cho họ nhiệm vụ đảm bảo trật tự, và cùng với lực lượng An ninh vô hiệu hoá những phần tử phản cách mạng, nếu xẩy ra một cuộc xâm lược.

     Trung tướng nhớ lại:

     “Ngày 18, còn rất sớm, Fidel lệnh cho chúng tôi đến gặp Người lần nữa. Fidel cho Efigenio biết Tiểu đoàn Cảnh sát cần phải hành quân tới tận vùng đang có chiến sự với nhiệm vụ ngăn không cho những tên đánh thuê ở Girón có thể tăng viện cho Bãi Dài và những tên địch ở Bãi Dài không thể rút về Girón được.

     Chữ Fidel được viết bằng máu của chiến sĩ Eduardo Garcia Delgado hy sinh trong vụ tấn công của máy bay dịch veto thành phố tự do ciudad Abertad. (Đây là một khu trường nội trú do chính phủ cách mạng Cuba xây dựng ở La Habana dành cho con em các gia đình nghèo ở thủ đô và các vùng lân cận cảm thấy bị chia cắt và không an toàn bởi vì có lực lượng cách mạng ở hậu phương của chúng, khiến cho chúng luống cuống và ngăn không cho chúng hợp đồng tác chiến.)



Từ khóa tìm kiếm nhiều: dat nuoc cuba

Tác động của báo chí tới cuộc chiến ở Cuba

     Vai trò của báo chí đối với cuộc đổ bộ Girón và các cuộc xâm lược chống Cuba, cho thấy khuynh hướng của những người đứng đầu các hãng truyền thông lớn ở Mỹ là tán thành những mong muốn của Oasinhtơn.

       Tờ Thời báo New York ngày 6/4 nhận được một tin, từ Miami gửi tới, của nhà báo Tad Szulc, phản ánh sự dính líu của CIA trong công việc chuẩn bị cho cuộc xâm lược và báo trước cuộc tấn công sắp xảy ra.

       Người lúc đó là một chủ bút của tờ Thời báo New York, Orvil Dryfoos, thấy hết sức lo ngại vềnhững sự rắc rối do bài viết của phóng viên đó có thể mang lại cho sự an toàn của tờ báo. Ông bèn viết một bài xã luận bở những chỗ nói đến CIA và khả năng sắp xảy ra cuộc xâm lược. Và ông chuyển bài từ trang nhất xuống một cột nhỏ trang 4.

       Kennedy dựa vào những chủ nhiệm báo bao giờ cũng có thể loại bỏ những tin bất lợi cho chính quyền, ông gọi đó là “những tiết lộ quá sớm không chắc chắn của tin tức”.

cuộc chiến ở Cuba


     Alan J.Gould, trong thời gian đó là Tổng Giám đốc Hãng Thông tấn AP, bình luận: “Đôi lúc chúng tôi biên soạn những chuyện có lợi cho quốc gia. Khi Tổng Thống nước Mỹ gọi cho anh và nói với anh đây là một vấn đề an ninh sống còn, anh hãy chấp hành mệnh lệnh”.

      Những lời tố cáo được nhiều lần nhắc lại của Fidel rằng Mỹ đang tổ chức một lực lượng xâm lược để chiếm Hòn Đảo, đều bị những phương tiện truyền thông của Mỹ bác bở. Tởi tệ hơn, họ đánh giá thấp và coi thường một cách có hệ thống lời cảnh báo ấy.

      Khi chính quyền Eisenhower cắt đứt quan hệ với Cuba ngày 3/1/1961, một bài đăng trên số Thời báo New York chủ nhật, viết:

“Điều làm tan vỡ sự kiên nhẫn của Mỹ là một đợt tuyên truyền tấn công mới của La Habana, trong đó kết tội Mỹ đang ngầm chuẩn bị cho một cuộc xâm lược Cuba sắp tới”.

       Và tương ứng với ý kiến này, họ đã hành động. Trong một mưu đồ hiển nhiên nhằm thổi bùng công luận chống Cuba, các phương tiện thông tin Mỹ đăng tải nhiều thông tin về việc Không Quân Cuba sử dụng máy bay phản lực “Mig”.

       Tạp chí Times đi tới chỗ khẳng định một số máy bay được điều khiển bởi phi công Tiệp Khắc. Họ bỏ ngoài tai cả những bằng chứng rõ ràng do chính Hải Quân Mỹ cung cấp để cải chính câu chuyện nhảm nhí đó.

       Ngày 20/4, trong một bài gửi gấp từ căn cứ hải quân Guantanamo đăng trên tờ Thời báo New York, nhấn mạnh: “Máy Radar nhạy cảm của các tàu thủy Mỹ ở đây chưa hề ghi được những dấu vết của những máy bay cộng sản hoặc của Cuba loại tốt độ cao. Mọi nhân viên đều chắc chắn không hề thấy những máy bay khu trục “Mig” trong khu vực này của Cuba. Các tàu thủy của chúng ta cũng chưa từng thấy một chiếc tầu ngầm nước ngoài nào”. Tuy nhiên, đoạn này đã bị xoá bỏ trong lần xuất bản sau của tờ báo.

      Về sự hoạt động xuất sắc của Không quân Cuba trong cuộc chống xâm lược, Fidel nhấn mạnh: “Giá  như chứng ta có được một số máy bay Mig trong những ngày ấy!”.

     Trong bài diễn văn ngày 27/4, tại Liên đoàn các chủ báo, Kennedy yêu cầu báo giới phải tự kiểm duyệt vì lợi ích của an ninh Quốc gia. Bực tức vì những tiết lộ của các báo về âm mưu bẩn thỉu của CIA chống Cuba, ông ta nói:

     “Mỗi tờ báo lúc này phải tự hỏi, đối với từng thông tin: “Đây là tin tức ư?”. Điều mà tôi muốn gợi ý là các ông hãy thêm một câu hỏi: “Cái này có cần thiết cho an ninh quốc gia hay không?” và tôi mong rằng mỗi một tổ chức Mỹ – Công đoàn, doanh nhân và công chức – tất cả các cấp, ngành, hãy đặt ra câu hởi ấy đối với những việc làm của mình và hãy hướng những hành động của mình phù hợp với đòi hỏi đó”.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: fidel castro, đất nước cuba